CÔNG CHÚA LÝ NGỌC KIỀU – ĐỨA CON CỦA ĐỨC PHẬT

Thời Lý, Phật giáo ở Đại Việt phát dương quang đại, phát triển vượt bậc. Muôn dân trăm họ đều coi Phật giáo là tôn giáo chủ đạo, nhất là hoàng thất nhà Lý lại càng sùng đạo hơn bất kỳ ai. Sự xa hoa lộng lẫy của Tử Cấm Thành cũng được bao trùm lên những yếu tố nhuốm màu Phật giáo. Những năm thời Thánh Tông, dân giàu nước mạnh, xưng bá một cõi.

Chốn hoàng cung tưởng chừng tĩnh lặng tiêu diêu nhưng thực chất lại đầy sóng gió ẩn sâu trong đó. Sau khi Thượng Dương Thái hậu qua đời, ngoại trừ Thái tử thì các người con được bà nuôi dạy đều ly tán, không còn thông tin gì, chỉ duy có công chúa Lý Ngọc Kiều là còn đôi dòng chép lại. 

Công chúa Ngọc Kiều vốn là con của Phụng Càn Vương Lý Nhật Trung, được Thánh Tông cho vào cung từ nhỏ, ban phong hào Công chúa. Từ nhỏ nàng được Dương Thái hậu chăm lo săn sóc cùng ân cần dạy bảo, lại thêm thiên tư vốn thuần hậu, ngôn hạnh đoan trang nên người người đều khen tài sắc vẹn toàn. Đến khi lớn lên, nàng được gả cho châu mục Chân Đăng vì mục đích chính trị. Mười dặm hồng trang tiễn nàng về nơi xứ xa, sử gia đều không một dòng ghi chép.

Không được bao lâu thì viên châu mục đó qua đời. Dù cho mọi người khuyên rằng nên tái giá, nàng vẫn kiên quyết thủ tiết với người chồng đã khuất kia. Không ai rõ đời nàng trước khi xuất gia có bao nhiêu vui thú, bao nhiêu buồn tủi. Hậu thế biết đến nàng, đa số đều là cuộc sống của nàng sau khi xuất gia mà thôi. 

Ngọc Kiều sau khi giác ngộ được thiên đạo, đã đem vàng bạc đi quyên góp rồi thụ giới làm ni. Thuận theo thỉnh nguyện của nàng, nhà sư Chân Không đã cho làm lễ xuống tóc, lấy pháp danh là Diệu Nhân và cho phép nàng tu học tại ni viện Hương Hải ở làng Phù Đổng. Pháp danh của nàng dường như bao hàm trong đó là quy luật vận hành của đại đạo: Nhân quả, tự cổ chí kim vốn đều là điều kì diệu, có nhân ắt có quả, thiên đạo vốn luôn công bằng như thế. 

Sau khi thọ Bồ Tát giới, ni sư Diệu Nhân luôn gìn giữ giới luật và hành thiền, được chúng tăng ni Phật tử thời bấy giờ xem trọng. Theo sử liệu thì ni sư là người phụ nữ đầu tiên được truyền thụ Tâm nhãn, đứng đầu thế hệ thứ 17 của Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi thời nhà Lý. Sinh thời, sư Diệu Nhân để lại cho hậu thế rất nhiều tác phẩm nhưng đến nay đã thất lạc cả, chỉ còn lại một bài kệ và nhiều câu chuyện truyền miệng mà thôi. Bài kệ còn được bảo lưu có dung lượng 7 câu 28 chữ. Tuy dung lượng ngắn ngủi nhưng lại chứa đựng tư tưởng nhân sinh và Phật học vô cùng sâu sắc.

Khi có người hỏi về một câu trong kinh Duy Ma Cật rằng: “Tất cả chúng sinh bệnh, nên ta cũng bệnh, vậy sao gọi là khi nào cũng tránh xa thanh sắc?” thì ni sư đáp rằng: “Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh để cầu ta, thì đó là tu tà đạo, không thấy được Như Lai”.

Ni sư cho rằng, người tu đạo nên ngồi tĩnh tâm, dùng cảm ngộ của bản thân để tìm ra chân lý của đại đạo, bởi vì đạo vô hình, vô thanh, vô tức, không thể diễn tả được. Trong xã hội mà tăng nhân được xem trọng, thì quan niệm về thiền và đạo pháp của sư Diệu Nhân lại như tiếng chuông cảnh báo chúng tăng rời xa những phù phiếm chốn hồng trần. Người tu hành cốt là để tìm về đạo, thông qua gian khổ để giác ngộ. Trong chốn phồn hoa thịnh thế này, “thanh” và “sắc” tồn tại như một thứ ác ma dụ dỗ. Phải giữ cho tâm hồn trong sạch, ấy là cách để đến gần chân thân của đạo vậy.

Trang Tử cũng từng viết trong Nam Hoa Kinh rằng: “Tôi nói với ông về đạo, thì tôi thực chất cũng chưa hề ngộ được đại đạo vậy. Tôi chẳng qua cũng chỉ là kẻ thiển cận mà thôi. Đạo vốn không lời, hình, thanh, sắc. Không ai hiểu về nó nhưng ai ai cũng nhờ nó mà sinh!”

Sư Diệu Nhân, tuy rằng khác thời, khác quốc gia nhưng tư tưởng của bà về đại đạo, thì giống với Trang Tử lắm. Mãi đến thời Trần sau này, vua Trần Nhân Tông mới bàn kỹ thêm về những lý luận mà sư Diệu Nhân đã thuyết giảng trước đó. Ông cũng giảng về bốn giai đoạn của một đời người, chỉ dẫn mọi người phương pháp vượt qua từng giai đoạn… Có điều nếu sư Diệu Nhân mạnh mẽ, quyết liệt, yêu cầu người học đạo phải đạt đến sự giác ngộ từ trong lý trí; thì Trần Thái Tông chiếu cố nhiều hơn đến sự “mê hoặc” của chúng nhân. Ông đặt ra phương pháp tu trì giúp họ làm phương tiện để sang bờ giác, cho đến thời điểm mà ánh sáng trí tuệ bừng nở khiến họ hiểu “Phật là không mà Tổ cũng là không”. 

Ngày viên tịch, sư cho gọi tăng chúng đến để đọc thị tịch, sau đó tắm rửa gội đầu sạch sẽ, ngồi thế kiết già mà hóa. Hôm đó là ngày mùng 1 tháng 6 năm Hội Tường Ðại Khánh năm thứ 4 (1113), đời vua Lý Nhân Tông. Ni sư đến tận lúc viên tịch vẫn muốn đem tâm niệm của mình truyền thụ cho tăng chúng: con người nhọc lòng cầu Phật, cầu thiền, mong nhờ sự trợ giúp của một lực lượng siêu nhiên nào để thoát khỏi “lẽ thường tự cổ” đó thì chỉ là mê muội, tự trói buộc mình mà thôi. Bởi rằng “Tất cả các pháp trên thế gian vốn là mộng ảo, những thứ vinh hoa phù phiếm mà lại có thể trông cậy được sao?”.

#ThậpLý

#chuyenhaucung

#vanhoa #lichsu #cungdinh 

—————————————

Để có thông tin chi tiết hơn, vui lòng liên hệ Chuyện Hậu Cung

► Email: chuyenhaucung.hr@gmail.com

► Facebook: fb.com/chuyenhaucung/

► Hotline: 

Chủ nhiệm dự án: Mr. Toàn (034 768 3555)

Phó Chủ nhiệm: Ms. Phương Thảo (096 254 9687) 

Rating: 5 out of 5.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s